Truy cập nội dung luôn

 

Chào mừng bạn đến với trang web của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tỉnh Tiền Giang

Chi tiết tin



Áp dụng Bộ luật nào cho chính xác ?
16/04/2018

Trong thời điểm giao thời giữa hai Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 và Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, thì vấn đề áp dụng Bộ luật nào để đảm bảo tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp cho bị can, bị cáo, trong thực tiễn cũng phát sinh nhiều quan điểm chưa thống nhất. Cụ thể như vụ án sau:
Vào ngày 20/10/2017, Nguyễn Văn A, trộm cắp 01 cây mai vàng được định giá là 80.000.000 đồng. Nguyễn Văn A bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B, khởi tố bị can về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009. Sau đó Nguyễn Văn A bị truy tố cùng tội danh và điều luật nêu trên. Ngày 10/01/2018, Tòa án nhân dân thị xã B xét xử tuyên Nguyễn Văn A phạm tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. 
Như vậy về việc áp dụng điều khoản của Bộ luật Hình sự để xử lý đối với Nguyễn Văn A, giữa các cơ quan tiến hành tố tụng có sự nhận thức khác nhau, dẫn đến có hai nhóm ý kiến như sau:
* Nhóm ý kiến thứ nhất: Cho rằng việc áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự để xử lý Nguyễn Văn A của Tòa án nhân dân thị xã B, là chính xác. Với lý do là mặc dù hành vi của Nguyễn Văn A thực hiện vào ngày 20/10/2017, trước ngày 01/01/2018, là ngày Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, có hiệu lực nhưng căn cứ vào hướng dẫn tại điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/ QH14 và hiệu lực thi hành của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13, quy định như sau: “Các điều khoản của Bộ luật Hình sự năm 2015 xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng; quy định hình phạt nhẹ hơn, tình tiết giảm nhẹ mới; miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và các quy định khác có lợi cho người phạm tội thì được áp dụng đối với cả những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 201mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án tích” và khi so sánh hai điều luật Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 và điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, thì căn cứ vào tiểu mục b1 mục b khoản 2.2 Điều 2 Phần II Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 11 năm 2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ ba "Xét xử sơ thẩm" của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, quy định: “Trước hết xem xét hình phạt chính đối với hai tội phạm, nếu tội nào điều luật có quy định loại hình phạt nặng nhất nặng hơn thì tội đó nặng hơn”. Đối với tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 thì mức hình phạt cao nhất là chung thân. Đối với tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, mức hình phạt cao nhất là 20 năm tù giam. Như vậy tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2009 nhẹ hơn tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009. Như vậy theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội thì phải áp dụng theo hướng có lợi cho Nguyễn Văn A là áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đây cũng là quan điểm của tác giả.
* Nhóm ý kiến thứ hai: Cho rằng việc áp dụng quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 của Tòa án thị xã B là không chính xác, mà phải áp dụng quy định tại điểm e khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 mới chính xác. Bởi vì, khi so sánh khoản 1 và khoản 2 của tội Trộm cắp tài sản ở hai Bộ luật thì có mức hình phạt như nhau và Nguyễn Văn A phải chịu mức hình phạt từ 02 năm đến 07 năm tù giam. Theo quy định của Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội thì chỉ khi nào áp dụng có lợi cho bị can, bị cáo thì Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 mới có hiệu lực hồi tố hơn nữa tại Điều 426 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định: “Bộ luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2018”. Như vậy Nguyễn Văn A phạm tội Trộm cắp tài sản theo quy định ở khoản 2 của hai Bộ luật có mức hình phạt 02 năm đến 07 năm là như nhau mà hành vi của Nguyễn Văn A thực hiện vào ngày 20/10/2017, trước thời điểm Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung có hiệu lực pháp lực nên phải áp dụng Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009.
Mong nhận được ý kiến trao đổi của quý đồng nghiệp.

Thảo luận tại đây

Thanh Bình
Viện KSND thị xã Cai Lậy


Tương phản
Đánh giá bài viết(0/5)

Văn bản chỉ đạo điều hành Văn bản chỉ đạo điều hành

Liên kết Liên kết

Thống kê Thống kê

  Đang truy cập : 1
  Hôm nay: 166
  Tổng lượt truy cập: 63983